CÔNG TY CỔ PHẦN TRANG THIẾT BỊ - VẬT TƯ Y TẾ VNROYAL

Một số yếu tố kinh tế-xã hội ảnh hưởng tới quá trình liền vết thương

Tình trạng kinh tế– xã hội, phân hóa xã hội ảnh hưởng tới quá trình liền vết thương

Tình trạng kinh tế xã hội được biết đến như là yếu tố chính giúp phản ánh tình trạng y tế của cộng đồng dân cư ở khu vực đó, mạng lưới chăm sóc sức khỏe yếu kém sẽ dẫn tới chậm liền vết thương. Trong nghiên cứu của tác giả Frank và cộng sự chỉ ra rằng xã hội chậm phát triển, thiếu các trung tâm chăm sóc vết thương, hoặc các trung tâm hoạt động đơn lẻ có liên quan với tỷ lệ các vết thương không liền và chậm liền cao hơn. Các tác giả cũng chỉ ra những vết loét tĩnh mạch liên quan mật thiết với những người có thu nhập thấp, và ở nhóm đối tượng này vết loét thường khó liền hơn và tồn tại lâu hơn. Cũng chính những vết thương này lại cản trở việc quay trở lại công việc dẫn tới tình trạng kinh tế của bệnh nhân càng khó khăn hơn.

Phân hóa xã hội được định nghĩa như là tình trạng thiếu kết nỗi giữa các gia đình, bạn bè, hàng xóm… Đây có thể là hậu quả của những tác động liên quan tới địa lý, kinh tế, chủng tộc và rào cản xã hội, trong tình trạng này số lượng bệnh nhân có vết thương mạn tính sẽ tăng cao hơn. Tác giả Moffat và cộng sự đã chỉ ra rằng những bệnh nhân có vết thương mạn tính thường nằm ở nhóm có mức hỗ trợ xã hội thấp và thiếu những kết nối xã hội. Những bệnh nhân ở trong môi trường có phân hóa xã hội, thiếu tình bạn, sự hỗ trợ từ gia đình, chính điều này là tăng nguy cơ nảy sinh các vấn đề về tâm lý như áp lực và lo lắng. Từ đó có ảnh hưởng tiêu cực lên quá trình liền vết thương.

Những tác động của tâm lý xã hội lên diễn biến vết thương.

Mất ngủ, lo lắng và áp lực, đau và nhận thức đau thông qua hệ thống thần kinh sẽ làm ảnh hưởng tới kích thích đáp ứng viêm hệ thống, sức đề kháng của bệnh nhân, chính những yếu tố này làm giảm đáp ứng tại chỗ vết thương và làm vết thương chậm liền hơn.

Những bệnh lý mạn tính kết hợp cũng có ảnh hưởng tới quá trình liền vết thương thể hiện qua một số dấu hiệu như đau, số lượng, màu sắc và mùi của dịch tiết, chính những điều này lại làm ảnh hưởng và làm thay đổi lối sống của người bệnh. Người bệnh xuất hiện thái độ và những vấn đề tâm lý tiêu cực, điều này làm chậm liền vết thương.

Mất ngủ: Mất ngủ thường gặp khá phổ biến ở bệnh nhân có vết thương mạn tính, và nó thường liên quan tới tình trạng đau không được kiểm soát ở bệnh nhân. Những nghiên cứu gầy đây trên người có bệnh nhân mạn tính đã chỉ ra ảnh hưởng sâu rộng của việc mất ngủ tới cuộc sống hàng ngày. Để cải thiện việc này bệnh nhân cần được tư vấn, ngủ có giờ giấc, quy luật kể cả không theo chu kỳ sinh lý hàng ngày. Mất ngủ cũng ảnh hưởng đến quan hệ cá nhân của người bệnh. Ví dụ họ có thể phải ngủ ở phòng riêng để tránh làm phiền bạn đời. Việc này có thể làm trầm trọng thêm cảm giác bị cô lập và ảnh hưởng đến quan hệ trong gia đình người bệnh. Người bạn đời có thể cũng lo lắng về việc ngủ chung và/hoặc quan hệ tình dục với người có vết thương mạn tính vì họ có thể vô tình làm đau hoặc gây chấn thương cho người bệnh.

Mất ngủ cũng có thể ảnh hưởng tới các phản ứng thông thường của cơ thể, và do đó ảnh hưởng tới quá trình liền vết thương. Tuy nhiên đây vẫn còn là một ý kiến gây tranh cãi, theo tác giả Mostaghimi và cộng sự cho rằng mất ngủ không gây ảnh hưởng trầm trọng lên quá trình liền vết thương, trong khi đó tác giả Gumustekin và cộng sự lại cho rằng mất ngủ có ảnh hưởng bất lợi tới quá trình liền vết thương do làm tăng tiết cortisol vào buổi sáng làm chậm liền vết thương. Nhận định này cũng được chứng minh bởi tác giả Wright và cộng sự đã chứng minh việc mất ngủ làm xuất hiện kích thích thần kinh từ vỏ não theo hướng tăng tiết cortisol. Tuy nhiên nhận định này cần phải được nghiên cứu sâu thêm trước khi có kết luận cuối cùng.

Tâm thần kinh và đáp ứng miễn dịch (Pyschoneuro-immunology): Tác giả Broadbent và cộng sự cho rằng các sang chấn tâm lý làm giảm phản ứng viêm và quá trình di cư tế bào sau phẫu thuật và điều này làm chậm liền vết thương. Cùng quan điểm tác giả Marucha lại cho rằng những tổn thương niêm mạc có quá trình diễn ra nhanh hơn ở nhóm các đối tượng không có biểu hiện lo âu.

Quá trình liền vết thương có liên quan chặt chẽ đến việc giảm đau trong chăm sóc và điều trị. Hầu hết các nghiên cứu đều nhận định rằng yếu tố đau làm giảm các cytokine viêm có lợi tham gia vào các giai đoạn của quá trình liền vết thương. Cảm giác đau ở bệnh nhân có vết thương không liền có thể được cải thiện, mặc dù không nhiều, bằng cách kiêm soát có hiệu quả các yếu tố như phù nề, giảm lượng vi khuẩn và dịch tiết tại chỗ vết thương.

Dịch tiết và mùi:

Nhiều vết thương mạn tính, không liền tiết rất nhiều dịch. Tuy nhiên, theo tác giả John và cộng sự cho rằng chính cơn đau và mùi từ vết thương chứ không phải sự tiết dịch gây nên những phiền toái chính cho người bệnh. Người bệnh lo ngại người khác có thể chú ý hoặc bình phẩm mùi của vết thương và do đó có tâm lý xa lánh gia đình, bạn bè của họ. Sự lo ngại đó có thể ảnh hưởng sâu sắc tới việc phát triển các quan hệ cá nhân. Việc kiểm soát dịch tiết sẽ góp phần làm giảm mùi của vết thương. Để làm được điều này cần phải kết hợp giữa việc đánh giá cụ thể vết thương, kiểm soát nhiễm khuẩn, lựa chọn các sản phẩm điều trị tại chỗ vết thương phù hợp để kiểm soát dịch tiết và hỗ trợ quá trình liền vết thương.

Nhiễm khuẩn: Kinh nghiệm lâm sàng cho thấy các vết thương nhiễm khuẩn tái đi tái lại có hể gây lo âu và suy nhược nặng nề cho người bệnh. Trong giai đoạn nhiễm khuẩn, người bệnh gặp một loạt các triệu chứng khó chịu và đa phần họ nhận thấy vết thương của họ ngày càng trở nên tồi tệ hơn.

Những vấn đề nổi lên gần đây liên quan tới nhiễm khuẩn bệnh viện và xuất hiện tụ cầu vàng kháng methicilin (Methicillin-resitant Staphylococcus aureus - MRSA) đã làm xuất hiện những lo lắng từ nhân viên y tế và bệnh nhân của họ. Kết quả là, một số bệnh nhân không muốn đến bệnh viện khám do e ngại việc nhiễm khuẩn có thể ảnh hưởng tới bản thân.

Lối sống: Rất nhiều bệnh nhân có vết thương mạn tính, không lành buộc phải thay đổi lối sống của họ. Một nghiên cứu được thực hiện trên 14 bệnh nhân loét tĩnh mạch chi dưới cho thấy một số người có cảm giác chán nản về cuộc sống. Một số đã phải thay đổi cuộc sống của mình. Ví dụ phải thay đổi công việc, nghỉ hưu. Người bệnh cảm thấy khó khăn khi phải lựa chọn giữa việc tuân theo hướng dẫn của nhân viên y tế hay tiếp tục công việc và lối sống vốn đã quen thuộc. Trong trường hợp này, việc nhắc nhở của nhân viên y tế với người bệnh sẽ khiến họ cảm thấy nặng nề hơn. Bởi vậy một kế hoạch điều trị phù hợp và dung hòa sẽ giúp bệnh nhân có thể quay lại với cuộc sống bình thường của mình.

Kết luận

Vấn đề cốt lõi trong việc kiểm soát chất lượng cuộc sống của nhóm bệnh nhân có vết thương mạn tính phụ thuộc vào việc phát hiện các vấn đề sớm. Các bác sỹ phải ưu tiên việc giúp bệnh nhân có được chất lượng cuộc sống tốt nhất cho dù phải sống với vết thương mãn tính. Điểm quan trọng là kiểm soát tốt triệu chứng, ưu tiên xóa bỏ các cơn đau do bệnh nhân bất kể điều kiện hay tiên lượng như thế nào. Mục tiêu của việc điều trị là hướng tới sự thoải mái và sức chịu đựng lâu dài của bệnh nhân. Điều này đòi hỏi việc đánh giá lại kế hoạch điều trị cùng với sự kết hợp của các chuyên gia trong nhiều lĩnh vực như nhà tâm lý học, chuyên gia về đau và các nhà hoạt động xã hội. Đồng thời, người bệnh phải được nhìn nhận là đối tác trong quá trình điều trị.

Hầu hết các nghiên cứu cho thấy việc sống chung với các vết thương khó liền thường đồng nghĩa với việc phải đối mặt với các vấn đề tâm lý xã hội sâu sắc mà nếu không được phát hiện và kiểm soát có thể dẫn tới ảnh hưởng tiêu cực khiến cho quá trình liền vết thương trở nên khó khăn hơn rất nhiều.

Lemese

Nguồn: http://www.lienvetthuong.vn/15129-mot-so-yeu-to-kinh-te-xa-hoi-anh-huong-toi-qua-trinh-lien-vet-thuong.html

Bài liên quan: Bài xem nhiều:
Liên hệ